Có bao giờ bạn tự hỏi rằng giác ngộ là như thế nào và làm
gì để giác ngộ không? Giác ngộ thật sự rất khó và rất dễ đi lầm đường nên chúng
ta cần người dẫn dắt bài bản và đúng cách.
Những khái niệm
căn bản
Trên lộ
trình giác ngộ, đầu tiên ta phải nhận thức về vô ngã; thứ hai là thường suy
nghiệm, quán chiếu về vô ngã; thứ ba là hình thành đạo đức và công đức.
Nói về nhận
thức về vô ngã: Lộ trình giác ngộ là con đường đi đến sự giác ngộ. Ai là người
khát khao, có ý thức, có lý tưởng đi tìm sự giác ngộ thì thứ nhất là những người
nghĩ mình còn đang si mê, tăm tối, vô minh nên muốn vượt khỏi thân phận thầm
thường của con người.
Thứ hai là những
người tuy không nghĩ mình ngu si, nhưng họ tin rằng sự giác ngộ là một điều cao
siêu, cực kì đáng để họ hi sinh cuộc đời này và nhiều kiếp sau nữa để đi tìm. Nếu
mức độ hiểu của ta về giác ngộ không sâu sắc thì động cơ, động lực, sức mạnh,
lý tưởng để ta đi tìm sự giác ngộ cũng rất yếu. Do vậy, ta sẽ dễ dàng bỏ con đường
này mỗi khi có những niềm vui ở đời lôi kéo. Ngược lại thì ta sẽ hình thành một
lý tưởng rất lớn – lý tưởng cho ta đủ sức mạnh để khước từ, đánh đổi, hi sinh
những niềm vui thế gian vốn dĩ quyện chặt trong máu, trong tim, trong tâm hồn
chính mình.
Chúng ta cần nhận
thức rõ hơn
Hiểu
về vô ngã – một trạng thái mà chúng ta chưa chứng đến là việc cực kì khó khăn.
Tuy nhiên,
trong phạm vi đề tài này, chúng ta chỉ nói một khía cạnh nhỏ nhưng là cốt tủy của
giác ngộ đó là vô ngã. Chúng sinh đều mắc bệnh chấp ngã, đều thấy có một cái
“tôi” rõ ràng, rất khác biệt với người khác. Từ cái “tôi” đó, vô số tâm lý như
tham muốn, tham lam, thèm khát, thù hận, yêu thương, kiếm tìm... cứ bao quanh,
bám chặt để tạo thành một bản ngã gần như “bất khả hủy diệt”.
Phân
tích cái trạng thái dứt sạch, thoát khỏi bản ngã là như thế nào. Chúng ta hiểu:
Khi vật chất bị chia nhỏ ra đến gần như tan hết, vật chất không trở thành hư vô
mà trở thành năng lượng. Người ta đã chế tạo ra bom hạt nhân dựa vào nguyên tắc
vật lý này. Cũng vậy, khi ta tu để mỗi ngày bớt đi tham, sân, ích kỷ, bỏ bớt dần
dần rồi đến mức hết sạch bản ngã… lúc đó ta không còn là ta nữa mà đã trở thành
pháp giới vũ trụ thênh thang này.
Nếu ta là vũ
trụ, ta sẽ có tình yêu thương của vũ trụ, ta là tất cả chúng sinh, chúng sinh
là ta, không nói yêu thương mà thương yêu tràn ngập. Thứ hai, ta là toàn thể vũ
trụ này với cái biết và trí tuệ thấu suốt.
Với con người,
cả vũ trụ là những khối đất đá vô tri. Còn với những vị A La Hán, cả vũ trụ này
là một khối biết, một khối tâm, một khối trí tuệ, một khối cảm ứng, không phải
là những thiên thể vô tri bay lẩn quẩn với nhau. Cả quá khứ, hiện tại, vị lai nằm
chung trong một chỗ của cái biết này. Đó là cái biết tự nhiên, cảm ứng, không dựa
vào tai mắt.
Người vẫn còn
chấp ngã mà đã ý thức về vô ngã được gọi là một bậc Thượng căn. Trong cuộc sống,
họ luôn tự nhắc mình về vô ngã, quán chiếu về trạng thái vô ngã, ý niệm vô ngã,
tức“Thân chẳng phải là ta/ Tâm chẳng phải là ta/ Chẳng có gì là ta” thì tự tâm
hồn, cuộc đời họ đi về hướng giác ngộ. Lúc đó, có hai điều hiện ra là đạo đức
và công đức.
Phúc nghĩa là
gì?
Nghĩa là người
được quyền có nhiều sự lựa chọn. Đây là định nghĩa rất căn bản. Và người có
phúc rất lớn, khi mất đi rồi, họ có quyền lựa chọn sinh về cõi trời hay quay xuống
cõi người, nếu chọn cõi người họ vẫn luôn có quyền chọn lựa giữa rất nhiều điều.
Nếu chọn những
niềm vui tạm bợ của thế gian làm tâm loạn lên, làm bản ngã khởi động trở lại, họ
sẽ mất đạo đức và cũng có nghĩa mất luôn công đức. Vì thế, người khôn ngoan sẽ
chọn con đường tiếp tục giúp họ diệt trừ bản ngã. Thiền định chính là phương
pháp diệt trừ bản ngã. Đó là lý do một người muốn đi tìm sự giải thoát giác ngộ,
vô ngã thì buộc phải tu tập thiền định, không còn con đường nào khác.
Nếu đi đúng
trên con đường Phật đạo, sẽ có ngày phước báo của chúng ta tràn ngập. Khi đó,
những điều thù thắng lần lượt hiện ra: dung nhan rực rỡ, gia sản, quyền uy lớn,
thông minh đĩnh ngộ, trí tuệ sắc bén... làm ta tăng lại bản ngã. Lúc này đòi hỏi
nơi ta một bản lĩnh, trí tuệ lớn hơn nữa để ta đấu với cái phước của mình, đừng
để tăng lại bản ngã mà phí đi bao nhiêu kiếp tu hành.
Khó vượt qua
nhất là trường hợp những người khi phước quá lớn, có quyền chọn lựa để về những
cõi trời rồi thì thường họ không bao giờ muốn trở lại cõi người nữa. Với con mắt
của một bậc Thánh, tất cả những điều của chúng sinh đều không đáng để đắm luyến.
Nên những vị Bồ tát thị hiện xuống với cuộc đời này là những vị cực kì vĩ đại.
Họ đã đến với cõi chúng sinh “ngũ trược ác thế”, đến với thế giới ô uế và ác độc
mà vẫn chấp nhận chịu đựng, chấp nhận bao nhiêu sự hủy báng, nhục mạ, oan ức để
nở nụ cười yêu thương, đem ánh sáng đạo pháp với cuộc đời.
Cũng vậy, khi
đã hiểu được lộ trình giác ngộ này, nếu tu hành đúng hướng, chắn chắn có ngày
ta sẽ đạt được phước báo vô tận, đạt được sự lựa chọn rộng rãi. Lúc đó hãy nhớ
quay lại với chúng sinh, nơi cõi đời ô trượt này để yêu thương, hi sinh, phụng
sự, giáo hóa không ngưng nghỉ.
Những
quan điểm mới về những điều tưởng như rất cũ, hầu mang lại một hướng đi đúng, để
giúp cho mọi người có được sự chuyển hóa sâu sắc và lâu bền trong tu tập.





